Mối quan hệ giữa văn học và đời sống năm 2024

Có ai yêu một loài hoa không sắc không hương? Có ai quyến luyến những vần thơ khô khan không cảm xúc? Văn chương phản ánh hiện thực nhưng nó không phải là một tấm hình khô cứng và vô hồn, mà đó là tiếng lòng thổn thức từ những câu chuyện của cuộc đời – câu chuyện được ngân vang trên ngọn đồi tuyết phủ trắng trời, thấp thoáng những đóa sơn trà e ấp trong làn sương giăng mờ ảo. Chính hiện thực cuộc sống luôn là cảm hứng cho sáng tác văn học, là cội nguồn gọi thức con chữ, là cầu nối tâm hồn đồng điệu của người nghệ sĩ với độc giả. Chính vì vậy, … đã khẳng định: …

MB2:

“Anh đi qua trái đất để lại chừng thơ ấy Hãy thương anh! Anh nào có chi nhiều Một chút nắng tàn, một dòng nước chảy Trái tim nghèo, nhưng cũng đã tin yêu”.

Nếu hội họa dùng đường nét và màu sắc để phác họa nên bức tranh cuộc sống, âm nhạc dùng ca từ và giai điệu để tạo nên những tiếng ca thì văn học dùng ngôn ngữ và hình ảnh để làm chất liệu cho sáng tác. Hiện thực đời sống luôn là nguồn cảm hứng vô tận sáng tạo nên văn chương, người nghệ sĩ phải đứng vững trên mảnh đất đời sống, lấy đó làm điểm tựa, điểm xuất phát thì mới mong tạo ra được thứ gì đó để đời. Nói như …:

Mối quan hệ giữa văn học và đời sống năm 2024

  • 2

Trước hết, mình xin nhắc lại khái niệm mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống: Là mối quan hệ gắn bó, mật thiết và chặt chẽ. Cả hai phải luôn tồn tại song song nhau và bổ trợ cho nhau. Văn học lấy chất liệu từ đời sống để khám phá, tái hiện và nâng cuộc sống lên một tầm cao mới, để tìm đến những giá trị chân- thiện- mĩ của cuộc đời. Mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống thông qua các tác phẩm là:

  1. Vào phủ chú Trịnh: Tác phẩm thể hiện thành công 1 bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, mĩ lệ nơi phủ chúa. Từ đó nổi nên một mầm mống căn bệnh thối nát của xã hội phong kiến đầu thế kỷ 19, cuối 18. Văn học đã dựa trên hiện thực ấy để tái hiện lại cuộc sống và lên án, phê phán, bày tỏ thái độ coi thường danh lợi của tác giả.
  2. Câu cá mùa thu: Cuộc sống vào hoàn cảnh tác giả sáng tác bài thơ là một nỗi khổ của dân chúng vì xã hội phong kiến. Chính vì thế, Nguyễn Khuyến mượn thơ để bày tỏ tấm lòng của mình- đau xót trước thời thế. Đồng thời, bài thơ là bức tranh mùa thu ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ-> tình yêu thiên nhiên.
  3. Bài ca ngắn đi trên bãi cát: Tiếp tục là tác phẩm phê phán cách sống xa hoa, thể hiện cái nhìn coi trường danh lợi, vinh hoa phú quý chỉ là nhất thời. -> khao khát thay đổi cuộc sống.
  4. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: dựa vào năm 1858, giặc Pháp đánh vào Đà Nẵng, nhân dân Nam Bộ đứng lên chống giặc quyết liệt và đã hy sinh anh dũng. Để tưởng nhớ công lao của các nghĩa sĩ, NĐC đã viết nên tác phẩm. Thông qua các phẩm, người đọc thấy rõ cuộc sống lầm than của người dân khi bị thực dân xâm lược với những tội ác man rợ. Từ văn học, NĐC đã khơi gợi lại tất cả công lao, bày tỏ sự xót thương đối với linh hồn người đã khuất.

Không có cuộc sống sẽ không có sáng tạo nghệ thuật. Đối tượng phản ánh của văn học là con người trong không gian, thời gian, thiên nhiên, vũ trụ và trong các mối quan hệ xã hội. Văn học phản ánh đời sống của con người và nhận thức về con người với ước mơ tâm tư nguyện vọng.

- Thực tại đời sống là đề tài vô tận cho văn chương khai thác và phản ánh, là chất liệu vô cùng phong phú sinh động cho nhà văn lựa chọn và sử dụng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Hiện thực chính là cái nôi nuôi dưỡng nhà văn, là mảnh đất nhà văn sống hình thành cảm xúc. "Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học", "Nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại". Bởi vậy văn học là cuốn “ bách khoa toàn thư” về đời sống và con người. Nhà văn lấy chất liệu là cuộc sống hiện thực, từ đó cung cấp cho con người nhưng tri thức về xã hội, làm giàu vốn tri thức của con người.

- Văn học là tấm gương phản ánh đời sống, không bám sát đời sống nhà văn sẽ không thể cho ra đời những tác phẩm văn học giàu chất sống, có giá trị. Nếu thoát li thực tại, văn chương sẽ rơi vào siêu hình, thần bí.

2. Không thể đánh đồng thực tại với văn chương

- Văn học phản ánh đời sống nhưng không bê nguyên xi hiện thực vào trong tác phẩm. Nếu đánh đồng thực tại với văn chương thì lúc đó văn chương không phải là sáng tạo nghệ thuật. Nếu văn chương chỉ và ghi chép lại những điều đã có trong hiện thực thì người đọc cũng chỉ nhìn thấy trong tác phẩm những gì họ nhìn thấy ngoài đời và như vậy văn chương không còn cần thiết và không có giá trị gì, tác phẩm sẽ trở nên nhạt nhẽo, vô hồn.

- Thực tại trong văn học không phải là sự phản ánh máy móc, rập khuôn mà được thể hiện qua chủ quan của người nghệ sĩ. Nó được phản chiếu qua tâm hồn, trí tuệ, cảm xúc mãnh liệt của nhà văn trước hiện thực. Nếu nhà văn chỉ chụp ảnh cuộc sống thì không cần đến vai trò của nhà văn. Sứ mệnh của nghệ sĩ là phản ánh hiện thực theo cái mới, qua tác phẩm kí thác những thông điệp tinh thần muốn gửi đến bạn đọc, hướng con người đến vẻ đẹp chân- thiện- mĩ. Để đạt được hiệu quả nghệ thuật, trong tác phẩm hiện thực đôi khi được hư cấu, tô đậm hơn.

- Thực tại trong tác phẩm văn chương bao gồm cả những điều mà mọi người đều đã thấy và cả vấn đề người khác chưa thấy, những điều sâu sắc mới mẻ mà chỉ nhà văn mới thấy.

- Hiện thực đời sống được người nghệ sĩ sắp xếp, tái hiện một cách sáng tạo thành chỉnh thể nghệ thuật. Tuy nhiên sự lựa chọn, sắp xếp hiện thực trong tác phẩm văn chương cần phải tạo cho nhà văn, nhà thơ một tiếng nói riêng, một phong cách riêng, tạo nên sự hấp dẫn với bạn đọc.

Có thể nói, tác phẩm văn học đích thực phải là sự phản ánh, sáng tạo, kiến giải hay về con người và đời sống.

3. Thực tại trong tác phẩm văn chương là cơ sở tạo nên giá trị hiện thực của tác phẩm

3.1. Biểu hiện của tính hiện thực của tác phẩm văn học là:

+ Phản ánh đúng thực tại, bản chất của đời sống và chức năng của văn học là giúp con người nhận thực đời sống xã hội.

+ Sự chân thực của cảm xúc, đánh giá, bày tỏ thái độ của người nghệ sĩ trước hiện thực, sự thể hiện bản lĩnh, nhân cách, cá tính độc đáo, tài năng của họ.

3.2. Bản chất của tính hiện thực trong tác phẩm văn học

+ Đối tượng phản ánh của văn học là toàn bộ thế giới khách quan, có nghĩa là phạm vi phản ánh của văn học bao gồm tất cả những gì có trong thực tế khách quan. Hiện thực là cội nguồn sản sinh ra các sáng tác văn học và đồng thời là chìa khóa giải thích những hiện tượng phức tạp trong văn học. Cho nên có thể nói tính hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn học.

+ Giá trị hiện thực của tác phẩm văn học là toàn bộ hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm văn học, tùy vào ý đồ sáng tạo mà hiện thực đó có thể đồng nhất với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau. Hiện thực trong các tác phẩm văn chương có thể là hiện thực được hư cấu.

- Văn học không tách rời tư tưởng nhưng chính tư tưởng cũng bắt nguồn từ hiện thực, bởi ý thức con người chính là sự phản ánh đời sống xã hội. Vì thế có thể khẳng định, bất kì nền văn học nào cũng được hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định. Cho dù là một tác phẩm lãng mạn hay một tác phẩm viễn tưởng thì văn học vẫn bắt nguồn từ một hiện thực đời sống nhất định, mang dấu ấn của một thời đại nhất định.

- Tuy nhiên, tính hiện thực trong các tác phẩm văn học được thể hiện đậm nhạt khác nhau. Chỉ khi nào nhà văn phản ánh đúng bản chất hay một vài khía cạnh của bản chất đời sống thì hiện thực của tác phẩm ấy mới đạt đến tính chân thật.

- Tác phẩm có tính hiện thực cao là tác phẩm phản ánh được quy luật phổ biến, những tất yếu khách quan, những chân lí đời sống, những kiểu người và những quan hệ hiện thực cơ bản của đời sống thể hiện qua những điển hình văn học.

LUYỆN ĐỀ

Đề số 1: “Khi cuộc sống xuất hiện những nỗi niềm thiết tha không bút nào tả xiết đối với năng lực thông thường, nghệ sĩ là người vượt qua giới hạn đó để đưa nỗi niềm kia vào hàng vĩnh viễn”.

(Lí luận văn học, Phương Lựu chủ biên, NXB Giáo dục, 2004, tr.251)

Anh/Chị hiểu nhận định trên như thế nào? Qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm) và Trao duyên (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du), hãy làm sáng tỏ nhận định.

1. Giải thích

- Những nỗi niềm thiết tha: những cảm xúc mãnh liệt (sự đồng cảm, tình yêu thương, nỗi căm giận...)

- Năng lực thông thường: khả năng diễn tả thông thường của con người.

- Vượt qua giới hạn: khả năng vượt qua năng lực thông thường bằng trái tim và tài năng nghệ thuật.

\=> Khi hiện thực đời sống nảy sinh những cảm xúc mãnh liệt, những vấn đề nhức nhối, những tình cảm vượt qua khả năng diễn tả thông thường thì người nghệ sĩ một mặt cảm nhận sâu sắc những nỗi niềm đó bằng trái tim mình. Mặt khác, bằng tài năng nghệ thuật xuất sắc, họ thể hiện được những cảm xúc mãnh liệt đó qua ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật... khiến nỗi niềm đó trở nên bất tử. Điều này là kết quả của tâm huyết và tài năng của người nghệ sĩ.

2. Lí giải

- Nhận định trên thể hiện mối quan hệ giữa văn học và hiện thực.

- Văn học vừa phản ánh những tình cảm mãnh liệt của đời sống con người vừa thể hiện tài năng và tâm hồn người nghệ sĩ trong việc cảm thấu những nỗi niềm thiết tha và biến nỗi niềm thiết tha thành bất tử.

(Học sinh vận dụng kiến thức lí luận văn học để lí giải ngắn gọn)

3. Phân tích, chứng minh

3.1. Những nỗi niềm thiết tha không bút nào tả xiết đối với năng lực thông thường:

- Qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ: đó là nỗi niềm của những người phụ nữ trong một xã hội bất công, không trân trọng quyền sống và quyền hạnh phúc của lứa đôi, là nỗi nhớ nhung, sầu muộn, lo lắng, cô đơn của người chinh phụ khi chồng đi chinh chiến...

- Qua đoạn trích Trao duyên: đó là nỗi đau như đứt ruột của người con gái chung tình nhưng lại phải trao duyên, là nỗi xót xa tủi hận khi Kiều luôn luôn mặc cảm mình là kẻ bội ước, phụ tình...

(Thí sinh phân tích dẫn chứng làm sáng tỏ)

3.2. Người nghệ sĩ vượt qua giới hạn để đưa nỗi niềm kia vào hàng vĩnh viễn:

- Qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm:

+ Tác giả đã thấu hiểu tột cùng nỗi lòng người chinh phụ và đồng cảm với khát khao hạnh phúc lứa đôi của nguời phụ nữ. Tác giả gián tiếp lên án chiến tranh phi nghĩa chia rẽ tình cảm gia đình, hạnh phúc lứa đôi...

+ Đoạn thơ sử dụng độc thoại nội tâm, điệp ngữ, nghệ thuật miêu tả tâm lí ...

- Qua đoạn trích Trao duyên Nguyễn Du:

+ Tác giả đã cảm thấu được những bi kịch của nàng Kiều. Tác giả đã viết về sự việc trao duyên của Kiều không phải với tư cách của người ngoài cuộc mà với tư cách của người trong cuộc… Ông như đứt từng khúc ruột cùng nỗi đau của Kiều…, đúng như Mộng Liên Đường chủ nhân nhận xét: Nguyễn Du viết Kiều như có máu rỏ trên đầu ngòi bút, nước mắt thấm qua tờ giấy.

+ Đoạn thơ sử dụng bút pháp ước lệ, sử dụng ngôn ngữ tinh tế, miêu tả nội tâm nhân vật thông qua ngôn ngữ đối thoại, nghệ thuật tả cảnh, ngụ tình.

(Thí sinh phân tích dẫn chứng làm sáng tỏ)

4. Bình luận

- Đặt trong bối cảnh văn học Trung đại, khi vấn đề cá nhân, quyền sống của mỗi cá thể còn ít được nhắc đến, chúng ta có thể thấy bằng tâm huyết và tài năng vượt bậc, Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm đã vượt qua giới hạn để đưa nỗi niềm kia vào hàng vĩnh viễn.

- Bài học đối với người sáng tạo: phải sống sâu sắc với cuộc sống và thời đại để thấu hiểu, rung cảm được những nỗi niềm nhức nhối của nhân sinh, đồng thời cần có tài năng để có thể biến những cảm xúc đó thành bất tử.

- Bài học đối với người đọc: cần trở thành người đồng sáng tạo với tác giả, bởi những cảm xúc mãnh liệt của nhân sinh sẽ không thể nào trở thành vĩnh viễn nếu người đọc tiếp xúc với tác phẩm bằng tâm hồn vô cảm và một vốn sống cạn nông.

Đề số 2:Có ý kiến cho rằng “Không một ý định tốt đẹp nào có thể biện minh được cho nhà văn, nếu vì lí do muốn làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn lên, anh ta đã xuyên tạc nó: anh ta đã viết ra không phải là những cái nhìn thấy mà là những cái muốn thấy”. (Baklanôp – nhà văn Nga)

Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên và từ đó liên hệ đến trào lưu văn học hiện thực 1930-1945.

1. Giải thích

- Xuyên tạc hiện thực: phản ánh sai hiện thực một cách có dụng ý.

- Viết ra không phải là những cái nhìn thấy mà là những cái muốn thấy: phản ánh hiện thực theo ý muốn chủ quan của nhà văn.

- Hàm ý của lời phát biểu: Bày tỏ quan điểm không đồng tình trước hiện tượng nhà văn lạm dụng việc “tô hồng” hiện thực.

2. Lí giải

- Phản ánh chân thực, chính xác thực tế đời sống luôn là đòi hỏi hàng đầu đối với người cầm bút.

- Yêu cầu với tác phẩm văn học: yêu cầu về tính chân thực trong phản ánh; yêu cầu về sự thống nhất giữa chân lí nghệ thuật và chân lí đời sống; chức năng văn học (đặc biệt là chức năng giáo dục và nhận thức); vai trò của nhà văn khi mô tả hiện thực...

- Nếu nhà văn “tô hồng” hiện thực sẽ dẫn đến việc làm người đọc ngộ nhận và ảo tưởng về thực tế xã hội mà mình đang sống, khiến họ không còn ý thức đấu tranh để cải tạo nó, làm cho nó ngày càng tốt hơn lên... Nhà văn “viết ra không phải là những cái nhìn thấy mà là những cái muốn thấy” là một hình thức phản ánh không chân thực, thiếu chính xác nên sẽ gây ra những tác dụng tiêu cực đối với người đọc.

3. Phân tích, chứng minh

Trong quá trình triển khai luận điểm, học sinh có thể lấy một số tác phẩm văn học lãng mạn 1930 - 1945 để làm dẫn chứng.

- Văn học hiện thực 1930 - 1945 đã phản ánh thực tế đời sống lịch sử xã hội Việt Nam trước Cách mạng một cách khá sâu sắc và chính xác (làm tốt việc “viết cái nhìn thấy” - học sinh lấy dẫn chứng)

- Tuy nhiên, nhìn chung các nhà văn hiện thực nói trên chưa cho người đọc nhận ra được tương lai của một xã hội mới (chưa viết tốt “cái muốn thấy” - Học sinh lấy dẫn chứng)

4. Bình luận

- Sự phản ánh trong văn học bao giờ cũng gắn với tính chủ quan, tính sáng tạo của người nghệ sĩ (tức là gắn với việc viết “cái muốn thấy”). Do đó, nội dung lời phát biểu trên chỉ đúng đối với những trường hợp nhà văn lạm dụng việc “tô hồng” đến mức xuyên tạc hiện thực.

- Trừ trường hợp "tô hồng" đến mức xuyên tạc như đã nêu, việc viết "cái muốn thấy" luôn là một yêu cầu đặt ra đối với tác phẩm văn học chân chính; miễn là những gì nhà văn thể hiện phải dựa trên cơ sở nhận thức chính xác và sâu sắc qui luật vận động tất yếu của xã hội.