Năng lực công nghệ bao gồm những thành phần nào

Giáo dục công nghệ cho học sinh được thực hiện từ lớp 3 đến lớp 12 thông qua môn Tin học và Công nghệ ở Tiểu học và môn Công nghệ ở trung học. Cùng với Toán học, Khoa học tự nhiên, Tin học, môn Công nghệ góp phần thúc đẩy giáo dục STEM ở phổ thông – một trong những xu hướng giáo dục đang được coi trọng tại Việt Nam và ở nhiều quốc gia trên thế giới.

5 năng lực riêng của môn công nghệ

Với đặc thù của ngành, môn Công nghệ có ưu thế trong hình thành và phát triển năng lực công nghệ, thể hiện ở 5 năng lực thành phần trong mô hình dưới đây:

Mô hình năng lực công nghệ. Ảnh Ngô Chuyên.

Chương trình giáo dục công nghệ tuân thủ quan điểm xây dựng chương trình đã nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Theo định hướng này, Chương trình môn Công nghệ được xây dựng dựa trên các yêu cầu cần đạt cho từng cấp học và bậc học phổ thông, tạo cơ hội hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, các năng lực chung cốt lõi và năng lực công nghệ cho học sinh.

Phản ánh đầy đủ giáo dục STEM và tinh thần cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thực hiện chức năng giáo dục hướng nghiệp trên cả hai phương diện định hướng nghề và trải nghiệm nghề, đảm bảo đồng bộ, nhất quán với các hoạt động giáo dục hướng nghiệp khác trong tổng thể chương trình giáo dục phổ thông.

Trong Chương trình môn Công nghệ, có những nội dung cơ bản, cốt lõi, phổ thông tất cả học sinh đều phải học. Bên cạnh đó, có những nội dung có tính đặc thù, chuyên biệt nhằm đáp ứng nguyện vọng, sở thích của học sinh, phù hợp với yêu cầu của từng địa phương, vùng miền.

Chương trình môn Công nghệ có 5 mạch nội dung chính gồm: Công nghệ và đời sống; Công nghệ trong một số lĩnh vực sản xuất;  Một số công nghệ phổ biến; Phát triển công nghệ; Hướng nghiệp.

Ở Tiểu học, giới thiệu về thế giới kỹ thuật, công nghệ gần gũi với học sinh thông qua các chủ đề đơn giản về công nghệ và đời sống, một số sản phẩm công nghệ thường gặp trong gia đình, an toàn với công nghệ trong nhà; trải nghiệm với thiết kế kỹ thuật, công nghệ thông qua các hoạt động thủ công kỹ thuật, lắp ráp các mô hình kỹ thuật đơn giản, trồng và chăm sóc hoa, cây xanh trong môi trường gia đình, nhà trường.

Ở THCS, môn Công nghệ đề cập tới tri thức, kỹ năng về công nghệ trong phạm vi gia đình; những nguyên lý cơ bản về các quá trình sản xuất chủ yếu; cơ sở ban đầu về thiết kế kỹ thuật; phương pháp lựa chọn nghề cùng với thông tin về các nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất chủ yếu thông qua các mạch nội dung: Công nghệ trong gia đình; Nông – Lâm nghiệp; Thuỷ sản và Công nghiệp; Thiết kế kỹ thuật; Hướng nghiệp.

Nội dung môn Công nghệ trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp chú trọng tới những kiến thức tổng quan, đại cương và định hướng nghề về công nghệ thông qua các nội dung về bản chất của công nghệ, vai trò và ảnh hưởng của công nghệ với đời sống xã hội, mối quan hệ giữa công nghệ với các lĩnh vực khoa học khác; các tri thức, năng lực nền tảng phù hợp và kết nối được với các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ thuộc một trong hai định hướng Công nghiệp và Nông nghiệp mà học sinh lựa chọn sau khi tốt nghiệp.

Nội dung môn Công nghệ trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp chú trọng tới những kiến thức tổng quan. Ảnh minh họa. Nguồn Internet.

Dạy học công nghệ cần bám sát yêu cầu về phương pháp giáo dục được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, chú trọng dạy học định hướng phát triển năng lực.

Theo đó, khi thiết kế hoạt động dạy học cho mỗi nội dung, chủ đề học tập, ngoài việc đạt được mục tiêu về kiến thức và kỹ năng cho nội dung đó, cần xác định cơ hội góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung cốt lõi, các năng lực đặc thù môn học cùng những phẩm chất chủ yếu đã được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

Môi trường học tập cần an toàn và thoải mái, phát huy tối đa tính dân chủ trong lớp học; đảm bảo mọi học sinh đều muốn và đều được phát biểu, thực hành, đóng góp, chia sẻ ý kiến của bản thân trong các tình huống học tập đa dạng trong và ngoài lớp học.

Giáo viên cần lựa chọn, sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học phát huy tính chủ động, sáng tạo, tích cực và phù hợp với sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho người học.

Cần quan tâm tới học tập dựa trên hành động, trải nghiệm; tăng cường thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh, góp phần hình thành năng lực, phẩm chất môn học đảm nhiệm.

Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Bên cạnh việc tăng cường thực hành, trải nghiệm cho các nội dung dạy học cụ thể về cơ khí - động lực, điện - điện tử cũng như từng giai đoạn của quá trình thiết kế, học sinh còn thực hiện dự án học tập trên cơ sở vận dụng tổng hợp quy trình thiết kế và các công nghệ đã được đề cập.

Giáo viên cần khai thác có hiệu quả hệ thống các thiết bị dạy học tối thiểu theo nguyên lý thiết bị, phương tiện dạy học là nguồn tri thức chứ không phải là đối tượng minh hoạ nội dung học tập.

Cần coi trọng các nguồn tư liệu ngoài sách giáo khoa và hệ thống các thiết bị được trang bị; khai thác triệt để những lợi thế của công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học trên các phương diện lưu trữ tri thức, đa phương tiện, mô phỏng, kết nối, môi trường học tập.

Trong dạy học công nghệ, cần sử dụng đa dạng các phương pháp, hình thức, công cụ đánh giá đảm bảo đánh giá toàn diện học sinh; chú trọng đánh giá bằng quan sát trong cả hai trường hợp đánh giá quá trình và sản phẩm.

Với mỗi nhiệm vụ học tập, tiêu chí đánh giá cần được thiết kế đầy đủ, hướng  tới các yêu cầu cần đạt và được công bố ngay từ đầu để định hướng cho học sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập; công cụ đánh giá cần phản ánh được mức độ đạt được đã nêu trong mỗi chủ đề, mạch nội dung.

Cần kết hợp hài hoà giữa đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết; trong đó, đánh giá quá trình phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và tích hợp vào trong các hoạt động dạy học, đảm bảo mục tiêu đánh giá vì sự tiến bộ trong học tập của học sinh.

Cơ sở giáo dục cần đảm bảo đội ngũ giáo viên dạy công nghệ đủ về số lượng, được đào tạo đúng chuyên môn. Với các trường sư phạm, bên cạnh đào tạo giáo viên ngành Sư phạm Kỹ thuật Công nghiệp và Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp, cần sớm triển khai đào tạo giáo viên ngành Sư phạm Công nghệ.

Cơ sở giáo dục cần được trang bị đầy đủ các phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo yêu cầu. Cần thiết kế, triển khai phòng học bộ môn Công nghệ theo định hướng thực hành và trải nghiệm, kết nối và hỗ trợ với hoạt động giáo dục STEM, nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học, vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Đặc biệt quan tâm tới sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, trong đó chú trọng đa phương tiện và mô phỏng.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠNBình Định, ngày 07/4/2014NỘI DUNG6.1 Khái niệm chung về năng lực công nghệ6.2. Phân tích năng lực công nghệ6.3. Các biện pháp nâng cao năng lực công nghệKhái niệmTheo Lall, “ Năng lực công nghệ quốc gia [ngành, cơ sở] là khả năng củamột nước triển khai các công nghệ hiện có một cách có hiệu quả và ứng phóđược với những thay đổi công nghệ.”Hai cơ sở để phân tích năng lực công nghệ, đó là:Sử dụng có hiệu quả công nghệ có sẵnThực hiện đổi mới công nghệ thành côngVào những năm 1990, năng lực công nghệ được nghiên cứu sâu hơn vìmột số lý do sau:- Năng lực công nghệ quốc gia là yếu tố quyết định mức độ thành côngcủa các chiến lược phát triển công nghiệp, đa dạng hoá và xuất khẩu.- Năng lực công nghệ ở cấp doanh nghiệp được nâng cao sẽ giúp doanhnghiệp giảm chi phí trong việc mua và hấp thụ công nghệ, tăng cường năng lựccạnh tranh.Phân loạia/ Phân loại của Fransman- Năng lực tìm kiến và lựa chọn công nghệ để nhập.- Năng lực hấp thụ và sử dụng thành công CN nhập.- Năng lực thích nghi và cải tiến công nghệ nhập.- Năng lực đổi mới công nghệ.c/ Phân loại của viện nghiêncứu phát triển Thái Lan [TDRI]:- Năng lực tiếp nhận- Năng lực vận hành- Năng lực thích nghi- Năng lực đổi mớib/ Phân loại của S. Lall- Năng lực chuẩn bị đầu tư- Năng lực thực hiện dự án- Năng lực thực hiện các công việc về CN sản phẩm- Năng lực thực hiện các công việc về công nghệ quá trình- Năng lực lập kế hoạch tổng thể và điều hành sản xuất.- Năng lực chuyển giao công nghệ- Năng lực đổi mới về tổ chức để phát triển công nghệ.1. Mục đíchCấp ngành, quốc giaSử dụng kết quảPP luận và tính toánXđ điểm mạnh, điểm yếuXđ trạng thái cơ sởLập kế hoạch phát triểnTrình độ và năng lực nội sinhBiện pháp và đối sáchĐịnh hướng hđ2. Các bước phân tích năng lực CN của một ngànhBước 1: Giới thiệu và đánh giá tổng quan về ngànhBước 2: Đánh giá định tính năng lực công nghệBước 3: Đánh giá nguồn tài nguyênBước 4: Đánh giá nguồn nhân lựcBước 5: Đánh giá cơ sở hạ tầngBước 6: Đánh giá cơ cấu công nghệBước 7: Đánh giá năng lực công nghệ tổng thể.Những kết quả thu được ở các bước đánh giá các mặt nhân lực, tàinguyên, cơ sở hạ tầng, cơ cấu công nghệ ở các bước 3, 4, 5 và 6 có thể tổ hợplại để có một chỉ số năng lực công nghệ tổng thể của ngành.3. Phân tích năng lực CN của một ngànha/ Phân tích định lượng năng lực công nghệ cơ sở theo Atlas công nghệ.Cơ sở của phương pháp này là xác định giá trị tạo được do đóng góp của côngnghệ => kết luận năng lực công nghệ của cơ sở đó cao hay thấp.Sử dụng hàm lượng công nghệ gia tăng [TCA] để đánh giá năng lực công nghệ.TCA = TCO – TCI = λ. TCC. VA- λ là hệ số môi trường công nghệ mà tại đó hoạt động sản xuất diễn ra [có thểxác định bằng cách cho điểm.]- VA là giá trị gia tăng, thể hiện kết quả của doanh nghiệp, có thể tính được dễdàng.- TCA [Technology content added] : Hàm lượng công nghệ gia tăng ở doanhnghiệp.- TCC [Technology contribution coefficient] : Hệ số đóng góp của các thành phầncông nghệ:- TCO : Hàm lượng công nghệ của các đầu ra.- TCI : Hàm lượng công nghệ của các đầu vào.- TCC là hệ số đóng góp của công nghệ, tính toán khá phức tạp và được xác địnhbởi hàm hệ số đóng góp của công nghệ.3. Phân tích năng lực CN của một ngànhb/ Phân tích định lượng năng lực CN cơ sở theo phương pháp kết hợpTính giá trị đóng góp của công nghệ trên cơ sở tích hợp hai yếu tố: trình độ côngnghệ thông qua hàm hệ số đóng góp công nghệ và năng lực phát triển công nghệ nộisinh thông qua 4 thành phần năng lực công nghệ.Năng lực công nghệ được đánh giá thông qua giá trị tạo được do công nghệ.Nhưng cách tính có khác phương pháp trên.TCA = λ. TCC. C. VATrong đó :- TCC : Hàm hệ số đóng góp của công nghệ theo trình độ công nghệ- C : H ệ số đóng góp theo năng lực nội sinh công nghệC được xác định như sau: Các thành phần năng lực nội sinh công nghệ gồm:- Năng lực vận hành, ký hiệu C1- Năng lực tiếp thu công nghệ, ký hiệu C2- Năng lực hỗ trợ tiếp thu công nghệ, ký hiệu C3- Năng lực đổi mới, ký hiệu C4Căn cứ vào thang điểm chuẩn ứng với từng loại năng lực các chuyên gia sẽ chođiểm, sau đó tính tổng hợp lại.6.3.1- Nâng cao nhận thức và hiểubiết về năng lực công nghệ6.3.2- Xây dựng yêu cầu năng lựccông nghệ cơ sở, ngành, quốc gia6.3.3- Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện phươngpháp phân tích đánh giá năng lực công nghệ6.3.4- Tạo nguồn nhân lực chocông nghệ6.3.5- Xây dựng và củng cố hạtầng cơ sở công nghệ

Video liên quan

Chủ Đề