Cảm nhận về nhân vật Mị tự do bình luận về giá trị nhân đạo của tác phẩm

Trong văn xuôi hiện đại Việt Nam ở thế kỷ XX thì đề tài miền núi khá là được chú ý. Dù chủ đề cũ nhưng nhà văn luôn có cách khai thác vấn đề rất sâu, làm bật lên hình ảnh nhân vật. Mỗi nhà văn sẽ có những cái nhìn khác nhau và Tổ Hoài đã thể hiện Sự đồng cảm trước thân phận khổ đau của người dân miền núi, đặc biệt là phụ nữ điển hình trong tác phẩm này là Mị cuả Tô Hoài sẽ khác với những nhà văn khác, đó là một điểm riêng ở Tô Hoài. 

      Trong Vợ Chồng A Phủ Mị được khắc họa lên là một cô gái có số phận éo le, tủi phận nhưng phẩm chất đẹp vô cùng. Cô gái đẹp người Mèo này sống trong thời đaị phong kiến đầy rẫy những phong tục vô lí, áp bức. Bố mẹ Mị khất nợ nên Mị chính là người bị bắt để trả món nợ này, chủ nợ là Thống lí Pá Tra đòi bắt về làm dâu gạt nợ. Từ đây bao đau thương, tủi nhục của cô gái này bắt đầu xảy ra, mang danh là về làm dâu nhưng thực chất là nô lệ cho nhà thống lí. Mị trở thành một cô gái vô cảm trước mọi thứ, tê liệt ý thức, sống mà như không sống chính vì những thói áp đặt, vũ phu đánh đập, tra tấn tàn bạo khiến Mị đau khổ không nói nên lời, cuộc sống từng phút giây như đày đọa.

        Từ khi cuộc sống của Mị bị cuồng chân trong nhà Thống Lí thì những giấc mơ của Mị tan biến, phai mờ dần trong tâm trí và cô ngày ngày phục vụ không công còn bị đối xử tàn ác. Khi làm dâu nhà giàu những tưởng Mị sẽ có một cuộc sống hạnh phúc, đủ đầy nhưng không phải, tất cả chỉ là vỏ bọc bên ngoài. Mị ngày qua ngày lầm lũi trong bếp, nơi xó cửa làm việc quần quật từ sáng đến khuya. Năm này qua năm khác Mị chỉ quanh quẩn trong căn phòng mờ tối, một chút ánh sáng lọt qua khe cửa sổ bé tí chẳng biết là sương hay khói. Mị, từ một cô gái tuổi xanh tươi, trăng tròn với bao khát vọng, yêu đời thì bỗng trở thành một người phụ nữ dần tàn lụi, cam chịu. Mị làm việc không có thời gian nghỉ, quần quật từ sáng đến tối “con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ. Đàn bà con gái nhà này thì vùi đầu vào việc cả ngày lẫn đêm”. Có thể thấy số phận của côn vùi chôn, giờ chỉ còn là một cô Mị chịu đựng sống một cách vô nghĩa, không chút cảm xúc nữa rồi. Sau nhiều lần buồn đau, kháng cự, lấy lá ngón để mà tìm đến cái chết, kết liễu đời mình giải thoát tất cả mà không được thì giờ đây Mị chẳng tha thiết gì, cảm xúc trong cô chai sạn đi.

         Dù rằng bên ngoài thấy Mị mặc kệ trước mọi thứ nhưng sâu thẳm trong tâm hồn của cô gái trẻ này vẫn luôn âm ỉ một khát khao cháy bỏng được tự do, được sống là chính mình, cuộc sống của riêng cô. Lòng ước muốn ấy nó như lớp lửa nhỏ âm ỉ trong lớp tro tàn kia, chỉ cần một làn gió thổi qua sẽ khiến nó bùng thật mạnh mẽ. Chính vì bị ép vào đường cùng, thương và hiếu thảo với cha mẹ nên Mị phải hi sinh bản thân để cứu gia đình nên cô đành sống khiếp người đen tối, đau khổ.

         Đêm mùa xuân năm ấy lại đến rộn ràng, náo nức khắp đất trời với tiếng nhảy múa, ca hát, thổi sáo hòa trong bản giao hưởng thiên nhiên. Lúc này ở trong nhà nghe vọng vào, Mị không còn lầm lì trong cảm xúc chai sạn nữa, cảm xúc được đánh thức trở lại. Tiếng sáo vang lên trong đầu Mị những giai điệu vui tươi, Mị nhẩm bài hát nhớ về những tháng ngày đẹp đẽ đã từng có. Không chịu đựng Mị lấy rượu uống ừng ực để quên đi bao sầu đau, tủi hờn. Khi đó Mị như thấy mình trẻ lại, Mị vui lắm hừng hực sức sống trở lại và Mị vùng lên sửa soạn đi chơi. Thế nhưng mọi thứ đang dang dở thì A Sử phát hiện và trói Mị vào cột. Lúc này cơn đau từ tâm hồn đến thể xác trỗi dậy. Mị khao khát được đi chơi nhưng A Sử đã dập tắt, bóp chết khát khao mong manh kia.

         Một lần nữa sức sống trong Mị trỗi dậy mãnh liệt khi nhìn thấy A Phủ – một tôi tớ cho Thống Lí đang bị trói. Nước mắt của A Phủ rơi xuống thức tỉnh Mị phải vùng dậy đòi lấy quyền được sống, được yêu thương, tự do cho chính mình. Thế là Mị đã cùng A Phủ trốn thoát tìm lấy cuộc sống tự do của riêng họ.

        Tô Hoài đã rất tài tình trong nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật Mị. Chính ngòi bút tinh tường ấy đã dẫn lối người đọc len lỏi vào trong tâm hồn, cảm xúc của Mị, nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn của cô gái này.

Câu hỏi xoay quanh văn 12

Soạn văn 12 tập 1 ngắn nhất

Soạn văn 12 tập 2 ngắn nhất

Bài soạn văn lớp 12 siêu ngắn

Giải môn Giải tích lớp 12

Câu hỏi xoay quanh Địa lý 12

Soạn công dân 12 cực chất

Giái công dân 12 cực chất

Giải môn Giáo dục công dân lớp 12

Đề bài: Phân tích nhân vật Mị để thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài.

Nguyễn Thị Cẩm Vân lớp 12 chuyên Văn - Trường THPT Chuyên Quảng Bình

Điều thôi thúc Tô Hoài viết truyện Vợ Chồng A Phủ là món nợ tình cảm với đồng bào Tây Bắc. Sau khi cùng bộ đội vào giải phòng Tây Bắc [1952], nhà văn có thời gian dài sinh sống cùng với họ. Đồng cảm và thấu hiệu nỗi đau khổ tủi nhục của người lao động dưới ách thống trị của phong kiến thực dân, trân trọng những đức tính phẩm chất cao quý và vui mừng khi cách mạng đến với họ nên nhà văn kể về cuộc đời Mị và A Phủ với tình cảm đặc biệt. Vì thế, qua nhân vật Mị truyện vừa thể hiện giá trị hiện thực vừa thấm đẫm tinh thần nhân đạo.

Mở trang truyện là người đọc chứng kiến cảnh đời bi thương của nhân vật Mị : Lúc nào cũng thấy Mị ngồi quay sợi bên tảng đá cạnh tàu ngựa, lúc nào cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Nhà văn đã tả chân dung, tâm trạng để khắc họa số phận. Mị ngồi đấy mà cuộc đời như bị thắt chặt trong kiếp ngựa trâu và luôn mang trong lòng nỗi đau buồn thầm lặng dai dẳng, triền miên. Nỗi buồn đông cứng như tảng đá vô tri và đè nặng lên đôi vai, lên cuộc đời Mị. Tác giả đã thể hiện nỗi buồn của Mị với giọng văn ngậm ngùi và chiều sâu cảm thông, san sẻ.

Vì sao Mị lại xuất hiện đơn độc, lầm lũi giữa cảnh giàu sang tấp nập của nhà thống lí ? Hỏi ra mới biết cô ấy không phải là con thống lí mà là đứa con dâu gạt nợ. Vì món nợ từ ngày cưới mà bố mẹ không trả nổi nên Mị bị bắt về nhà Pá Tra làm vợ A Sử để trừ nợ. Đây là thủ đoạn cho vay nặng lãi của bọn phong kiến thống trị, là cách bóc lột sức lao động của người nghèo và chúng đã hãm người nông dân trong sự lệ thuộc suốt đời. Chúng đã lợi dụng tập quán của người Mèo : đời cha không trả hết nợ thì đến đời con, đời cháu. Bắt Mị về là cha con Pá Tra liền cúng ma nhà nó. Vĩnh viễn Mị là người của nhà thống lí, là đứa ở trừ nợ suốt đời, là có thể chết rủ ở xó nhà này mà không thể hi vọng vào sự giải thoát. Pá Tra đã lợi dụng sự mê tín dị đoan của người Mèo để giam hãm Mị, để tăng sức mạnh và vươn xa hơn bàn tay tội ác. Bọn thống trị độc ác đã tước đi quyền sống tự do của Mị, cướp mất tình yêu, tuổi trẻ và hạnh phúc của Mị.

Hành tháng trời, đêm nào Mị cũng khóc. Thân thể của Mị như muốn tan theo dòng nước mắt đau buồn tủi nhục ấy. Mị đã nghĩ đến cái chết như là phương cách giải thoát. Nhưng vì bố mà Mị cam chịu kiếp sống đọa đày. Mị làm việc như cái máy, bị vắt kiệt sức ra để trừ nợ. Tác giả so sánh Mị khổ ơn con trâu con ngựa nhà thống lí. Mị như cái xác không hồn. Mị sống trong căn buồng kín mít không ánh sáng, chăng hương người, chỉ có cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Không gian ấy co biết đời Mị sẽ héo dần trong tăm tối, nô lệ, trong kiếp sống ngục tù. Không biết gì tế giới xung quanh mình, Mị dần dần tê dại về cảm giác và tê liệt về ý thức, khác gì một đóa hoa tàn. Nếu đem so sánh với đoạn đời tươi đẹp hồn nhiên khi còn ở nhà với bố mẹ thì hiện trạng kia gợi biết bao niềm xót thương trong lòng nhà văn và độc giả. Và chi tiết ấy cũng mang ý nghĩa tố cáo tội ác bọn thống trị đã vùi dập biết bao thân phận. Chúng đọa đày, áp chế mặt tinh thần đến mức làm tê liệt ý thức phản kháng.

Không chỉ là nạn nhân của đồng tiền, của thần linh ma quái, của ách thống trị, Mị còn là nạn nhân của thói độc ác vũ phu, nam quyền. Không thích Mị đi chơi Xuân, A Sử chỉ hỏi một câu : « Mày muốn đi chơi à ? », rồi trói đứng Mị và cột nhà, quấn cả tóc Mị vào cột, Mị bị đối xử tàn tệ chẳng khác một con vật. Hành động của A Sử lạnh lùng như dã thú. Nó bị A Phủ trừng trị, Mị phải vào rừng hái thuốc về thoa suốt đêm. Quá mệ nằm thiếp đi một lúc, nó liền đạp chân vào mặt Mị. Có những đêm, Mị ngồi hơ lửa bên bếp, A Sử đi chơi về buồn tay đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp. Thân phận một con người nhưng bị đối xử tàn tệ như súc vật bởi thói độc ác, hống hách của bọn thống trị, nhà giàu. Cái đau đớn nhất của Mị không phải là thể xác bị hành hạ mà bị xúc phạm nhân phẩm, bị chà đạp giá trị con người. Tác giả vừa tố cáo vừa bộc lộ niềm đồng cảm, đau xót vô hạn.

Thể hiện mạng đời đau khổ tăm tối của Mị, tác phẩm đã khái quát hóa hiện thực đau khổ, tủi nhục bị bóc lột của người lao động miền núi, qua đó tố cáo tội ác bọn phong kiến thống trị. Đồng thời đành cho người lao động tình cảm nhân đạo cao quý : niềm đồng cảm sẻ chia, thương xót.

Giá trị nhân đạo của tác phẩm còn được thể hiện qua thái độ ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của Mị.

Khi còn ở nhà với bố mẹ, Mị sống rất hồn nhiên và vui vẻ. Nhưng khi nghe tin Pá Tra muốn bắt Mị về làm con dâu gạt nợ, Mị nói với bố : con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương, ngô trả nợ cho bố, bố đừng bán con cho bọn nhà giàu. Lời nói ấy chứng tỏ Mị là người giàu lòng tự trọng, có ý thức về nhân phẩm, danh dự và tự do. Tâm hồn Mị trong sáng, hồn nhiên, cao khiết như đóa hoa giữa gió núi mây ngàn. Khi bị bắt về nhà thống lí, sống trong cảnh trâu ngựa, đêm nào Mị cũng khóc và Mị uất ức vùng lên bằng cách hái lá ngón ăn để tự vẫn. Dù ý định không thành vì chữ hiếu nhưng hành vi ấy biểu hiện tính cách mạnh mẽ, tinh thần chống đối lại số phận. Đó chính là lúc sức sống tiềm tàng trong Mị đã trội dẫy. Từ bỏ ý định tự vẫn vì bố cho thấy Mị là cô con gái hiếu thảo và tràn đầy tinh thần hi sinh.

Vẻ đẹp của Mị còn được thể hiện qua lòng ham sống, khát vọng sống tự do, tâm hồn giàu sức sống. Kể từ ngày bố mất, Mị cũng không còn nghĩ đến cái chết, cô đã chôn vùi đời mình trong khổ đau, quên lãng. Thế nhưng lòng ham sống vẫn còn le lói. Đến khi mùa xuân về thì ngọn lửa ham sống chợt bừng lên. Tiếng sáo gọi bạn tình đêm xuân đã đánh thức tâm hồn Mị, lòng Mị cảm thấy bồi hồi xao xuyến, thiết tha muốn sống lại như những đêm xuân ngày xưa cũ. Mị ngồi nhẩm thầm hát theo tiếng sáo với những bản tình ca ngày trước. Mị lén lấy rượu uống, uống ừng ực từng bát, uống như nuốt hận, uống để quên đi những cay đắng, tủi nhục. Trong khi ấy, tiếng sáo ngoài đường, từ phía đời tự do cứ lửng lơ, mời gọi giục giã. Mị thấy lòng phơi phới trẻ lại. Mị muốn đi chơi. Sức sống bấy nay bị đè nén nay bật trào dậy thành khát vọng tự do mạnh mẽ. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn đầy sức sống và khát vọng sống tự do ấy bị hủy hoại bởi sự độc ác của A Sử.

Thế nhưng sức sống ấy lại bật dậy lần nữa trong hành động cứu A Phủ. A Phủ là đứa ở gạt nợ của nhà thống lí. Đi chăn bò, sơ ý để hổ ăn mất bò nên bị Pá Tra bắt trói đứng vào cột nhà và bỏ đói gần chết. Bỗng đêm khuya hôm ấy, Mị đang sưởi lửa thì ngọn lửa bếp bỗng bùng sáng lên. Nhờ đó mà Mị nhìn thấy dòng nước mắt tuyệt vọng của con người bất hạnh ấy. Vừa xót thương người cùng cảnh ngộ vừa căm thù thống lí Pá Tra nên Mị dám đứng dậy cắt dây trói cứu A Phủ. Khi A Phủ thoát rồi, Mị đứng lặng trong bóng tối và nỗi sợ hãi bị chết bỗng dưng ập về nên Mị đã vùng bỏ chạy theo A Phủ. Thế là ngẫu nhiên Mị được thôi thúc từ lòng ham sống, lòng khao khát tự do và biểu hiện tính cách ngoan cường. Hành động của Mị thật mạnh mẽ vì cô dám đứng lên chống đối lại số phận, chống lại thế lực bạo quyền và cả thế lực thần quyền : vì Mị đã hết sợ ma nhà thống lí rồi. Hành động giải phóng của Mị dù tự phát nhưng phù hợp với quy luật tình cảm, quy luật xã hội và thể hiện đúng quy luật phát triển của tính cách. Đó chính là lúc sức sống nội tại đã bùng lên một cách mạnh mẽ nên đã có một kết quả rực rỡ. Nó khép lại quãng đời nô lệ tăm tối ở Hồng Ngài, mở ra một cuộc đời tự do và ánh sáng ở Phiềng Sa. Hành động cứu người của Mị không chỉ thể hiện vẻ đẹp tính cách mạnh mẽ, khát vọng sống, lòng ham sống mà còn là biểu hiện của tình tương thân tương ái.

Như vậy, nhờ sức sống tiềm tàng, tính cách mạnh mẽ, lòng ham sống mà những người lao động miền núi có khả năng đứng lên để tự giải phóng. Họ biết tự cứu đời mình trước khi tìm đến với Cách mạng. Do đó, qua tình tiết này, truyện còn phản ánh một hiện thực đời sống là khả năng tự đứng lên giải phóng cuộc đời của người dân miền núi. Đây là cơ sở tốt để sau này gặp lại cán bộ A Châu họ nhanh chóng được giác ngộ cách mạng.

Mị không chỉ điển hình cho mảng đời tăm tối, nô lệ mà còn là hiện thân cho những phẩm chất cao đẹp của người lao động miền núi mà nhà văn ca ngợi : siêng năng, chăm chỉ trong lao động ; giàu tình nghĩa, đức hi sinh trong lối sống, quan hệ ; tâm hồn trong sáng, giàu sức sống, tiềm tàng khả năng phản kháng chống áp bức… Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất đặc sắc : đoạn tả Mị nghe tiếng sáo đêm xuân… Suy tính của Mị trước khi cắt dây trói cứu A Phủ… Thành công nghệ thuật này cũng biểu hiện niềm đồng cảm thương yêu nhân vật của nhà văn Tô Hoài.

Qua nhân vật Mị, Tô Hoài đã khái quát được hiện thực về cảnh đời đau khổ, tụi nhục của người lao động miền núi bởi tội ác của bọn phong kiến ôm chân thực dân. Truyện còn là bức tranh chân thực về nếp sống, phong tục tập quán vùng cao Tây Bắc. Truyện còn lay độn tình cảm người đọc bởi giá trị nhân đạo sâu sắc : niềm đồng cảm thương yêu kiếp người bất hạnh, trân trọng bao phẩm chất đáng quý của họ và kịch liệt lên án thói độc ác của bọn phong kiến thống trị.

Bài viết gợi ý:

Video liên quan

Chủ Đề