Thương cảng vân đồn ở đâu

Vân Đồn [Quảng Ninh].

Có lẽ nhiều người đã biết Vân Đồn [Quảng Ninh] có sân bay quốc tế, nhưng không phải ai cũng biết Vân Đồn mới là thương cảng sầm uất nhất của nước Đại Việt, tồn tại trong suốt 7 thế kỷ, hàng trăm năm trước khi thương cảng Hội An hình thành và phát triển.

Thương cảng cổ Vân Đồn là một hệ thống bến thuyền trên nhiều đảo trong vịnh Bái Tử Long, với phạm vi khoảng 200 km2. Trung tâm thương cảng được cho là ở bến Cái Làng, nằm dưới chân núi Man, phía đông bắc xã đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn. Ở bến Cái Làng, người ta đã tìm thấy bãi sành, sứ chum, vại, hũ, lọ, bát… kéo dài hàng trăm mét – dấu tích của nơi vận chuyển hàng hóa từ tàu, thuyền lên xuống cảng. Trong khu vực bến này cũng còn một đoạn tường thành cổ dài hàng chục mét, là những khối đá xếp lên nhau rất khéo.

Mặc dù Vua Lý Anh Tông là người đã quyết định lập ra thương cảng Vân Đồn vào năm 1149, song phải đến thời Trần, thương cảng Vân Đồn mới phát triển cực thịnh [thế kỷ XIII-XVI]. Sự kiện thành lập thương cảng Vân Đồn được Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: “Kỷ Tỵ [Đại Định] năm thứ 10 [1149], thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lộc, Xiêm La vào Hải Đông xin ở lại buôn bán, [Nhà vua] bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng quý, dâng tiến sản vật địa phương”.

Vừa là trung tâm giao thương quốc tế, vừa có vị trí trọng yếu về an ninh quốc gia vùng biển Đông Bắc như thế, nhưng thương cảng Vân Đồn cũng gắn liền với một truyền thuyết thơ mộng về giếng Hệu. Giếng nằm sát bên bờ vụng, từng cung cấp nước sinh hoạt cho các tàu buôn trong và ngoài nước. Rằng, một đôi trai gái từng hẹn hò bên giếng Hệu. Chàng trai theo quan quân đi chống giặc Nguyên. Người con gái đêm đêm ra giếng cầu nguyện cho anh bình an trở về. Chờ hoài không thấy, cô khóc mù cả đôi mắt. Một ngày cuối xuân, chàng trai cùng đoàn quân chiến thắng trở về, đưa người yêu trở lại bên giếng hàn huyên. Một mạch nước dưới giếng bỗng phun lên, ướt cả mặt hai người. Mắt cô gái bỗng dưng sáng lại. Một đám cưới linh đình được tổ chức. Giếng Hệu từ đó còn có tên là giếng Nàng Tiên hay giếng Nước Mắt…

Vật đổi sao dời, thương cảng Vân Đồn ngày nay chỉ còn thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu khảo cổ. Hy vọng một khi quần thể di tích này được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, được giữ gìn, tu bổ đúng cách, nó có thể trở thành một “địa chỉ đỏ” đối với những du khách yêu mến lịch sử dân tộc Việt.

Thành lập năm 1149, Vân Đồntrở thành thương cảng lớn đầu tiên của nước Đại Việt. Các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa cả trong và ngoài nước tạo cho khu thương cảng một diện mạo sầm uất. Hoạt động giao lưu cũng góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa xã hội Việt Nam thời bấy giờ phát triển, hội nhập với thế giới bên ngoài. Thương cảng Vân Đồn phát triển cực thịnh vào thế kỷ 13-16, sang thế kỷ 17-18 thì giảm dần vai trò sau khi các điểm giao thương chuyển sâu vào nội địa.

Bức tranh của họa sĩ Tây Ban Nha phác họa bến Cái Làng thuộc thương cảng Vân Đồn hiện được lưu giữ tại đình Quan Lạn.

Không chỉ có dấu ấn về giao thương, buôn bán, thương cảng Vân Đồn còn mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần làm nên chiến công của ông cha ta trong cuộc chiến chống ngoại xâm, bảo vệ biên cương, bờ cõi. Nhiều nhà khoa học đánh giá cao vai trò của thương cảngVân Đồntrong lịch sử dân tộc trên hai phương diện là trung tâm giao thương quốc tế và giữ vị trí trọng yếu của an ninh quốc gia tại khu vực Đông Bắc Tổ quốc.

Ngày nay, dấu tích của thương cảng xưa chỉ còn là hàng triệu mảnh sành sứ, các nền nhà, công trình, tiền cổ... Dù không xác định được vị trí chính xác địa điểm do thiếu cứ liệu ghi chép lịch sử, cộng với thời gian và bồi đắp của nước biển nhưng các nhà sử học đều chung nhận định: Thương cảng Vân Đồn là một hệ thống hàng chục bến thuyền cổ phân bố trên các đảo, ven bờ vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, kéo dài từ Móng Cái đến Vân Đồn, Hạ Long, Quảng Yên. Thương cảng Vân Đồn trong suốt hơn 700 năm lịch sử tồn tại của mình không chỉ là một bến cảng đơn lẻ mà là hệ thống các bến bãi, vụng đỗ tàu liên quan với nhau.

Trên cơ sở những hiện vật, tài liệu tìm được, Bộ Văn hóa và Thông tin [nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch] đã cấp bằng xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia năm 2003 cho các di tích thuộc bến thuyền cổ của thương cảng Vân Đồn. Để góp phần khẳng định ý nghĩa to lớn của địa điểm này trong chiều dài lịch sử đất nước, năm 2021, UBND tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt đề cương nhiệm vụ xây dựng hồ sơ khoa học để đề nghị Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt đối với Quần thể di tích lịch sử thương cảng Vân Đồn. Theo đó, phạm vi không gian bao gồm các địa điểm, địa danh có liên quan, các phế tích khảo cổ học, các di tích kiến trúc hiện còn, cảnh quan khu vực... của thương cảng cổ Vân Đồn. Phạm vi thời gian từ khi người Việt cổcó mặt ở Vân Đồn, khi hình thành thương cảng cổ Vân Đồn cho đến ngày nay. Địa điểm nghiên cứu tại các xã: Thắng Lợi, Minh Châu, Ngọc Vừng, Quan Lạn thuộc huyện Vân Đồn và các điểm di tích có liên quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh cấp kinh phí hơn 4,5 tỷ đồng từ nguồn ngân sách tỉnh để thực hiện các công việc như khảo sát di tích, sưu tầm hồ sơ, tài liệu, tổ chức thám sát, thăm dò khảo cổ học một số điểm di tích, tổ chức hội thảo,tọa đàm lấy ý kiến...

Đến nay, tỉnh Quảng Ninh đã hoàn thiện hồ sơ gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Vừa qua, bộ cũng đã ban hành quyết định cho phép Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Viện Khảo cổ học khai quật khảo cổ tại di tích cống Cái Lớn thuộc Khu di tích thương cảng Vân Đồn, thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

SONG THƯ

Đối với các định nghĩa khác, xem Vân Đồn [định hướng].

Thương cảng Vân Đồn từng là một thương cảng của nước Đại Việt, tồn tại từ giữa thế kỷ 12 đến cuối thế kỷ 18 ở vùng biển nay thuộc tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam. Đây là trung tâm giao thương lớn và quan trọng của Việt Nam lúc bấy giờ với nhiều thuyền buôn từ khắp châu Á và châu Âu đến buôn bán, trao đổi hàng hóa.[1][2]

Mục lục

  • 1 Vị trí
  • 2 Lịch sử
  • 3 Di tích
  • 4 Xem thêm
  • 5 Chú thích
  • 6 Liên kết ngoài

Vị tríSửa đổi

Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về phạm vi của thương cảng, tuy nhiên các nhà sử học đều có chung nhận định rằng thương cảng Vân Đồn không bao gồm một bến cảng mà là hệ thống các bến thuyền cổ phân bố trên các đảo, ven bờ vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, kéo dài từ Quảng Yên đến Móng Cái.[3]

Lịch sửSửa đổi

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào năm 1149, thời vua Lý Anh Tông, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Xiêm La, Lộ Lạc [nay là Indonesia, Thái Lan] vào Hải Đông [Quảng Ninh ngày nay] xin ở lại buôn bán. Vua đã cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương.[4][5]

Nhà Lý ban hành nhiều chính sách khuyến khích ngoại thương nên giao thương tại Vân Đồn phát triển. Hàng hóa trao đổi ở Vân Đồn là các sản vật tự nhiên phong phú như trầm hương, ngọc trai, ngà voi, vỏ quế, sừng tê giác, vàng, bạc, đồng, diêm tiêu. Hàng hóa nước ngoài nhập vào là gấm vóc. Hoạt động ngoại thương chỉ do nhà nước đảm trách, tư nhân không được tham gia buôn bán với nước ngoài. Để bảo vệ an ninh quốc gia, triều đình quy định, tàu thuyền nước ngoài, dù xa hay gần, đã vào cảng đều phải neo ở Vân Đồn, không được tiến sâu vào nội địa. Người nước ngoài chỉ được phép buôn bán ở một số địa điểm nhất định và chịu sự kiểm soát của nhà nước.[1][6]

Đến thời nhà Trần [1225–1400], thị trường hương liệu thế giới sôi động, sự phát minh ra con đường hàng hải xuyên biển từ Trung Quốc đến Ai Cập đã đẩy nhịp độ buôn bán quốc tế phát triển mạnh hơn. Buôn bán ở thương cảng Vân Đồn tấp nập, mở rộng với nhiều nước như Nhật Bản, Mông Cổ, Philippines và châu Âu. Vân Đồn trở thành thương cảng lớn và có vị trí quan trọng nhất của Đại Việt[6][7]. Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư: "Trước đây, thời nhà Lý, thuyền buôn tới thì vào các cửa biển Tha, Viên ở châu Diễn. Đến nay, đường biển đổi dời, cửa biển nông cạn, thuyền buôn phần nhiều tụ tập ở Vân Đồn..."[8]

Việc quản lý ngoại thương, trấn giữ Vân Đồn được vua Trần giao cho các thân vương, đại thần trong triều đảm nhiệm, nổi bật trong số đó có Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Lúc này Vân Đồn được bảo vệ chặt chẽ, rào gỗ được dựng lên quanh những nơi buôn bán và bãi biển xung yếu của đảo. Phần lớn người Vân Đồn làm nghề buôn nên cách ăn mặc đều giống người phương Bắc. Trần Khánh Dư đã lệnh cho quân lính tại Vân Đồn đội nón Ma Lôi, loại nón được sản xuất từ hương Ma Lôi, Hồng Lộ [nay là Hải Dương] để dễ dàng nhận ra quân Đại Việt, ngăn chặn quân Trung Quốc trà trộn vào[9]. Triều Trần đặt quan cai quản Vân Đồn gồm có quan Trấn [võ tướng nắm giữ], quan Lộ [văn quan nắm giữ] và quan Sát hải sứ [quan kiểm soát mặt biển], đặt ở đây một đội quân riêng gọi là quân Bình Hải, có nhiệm vụ tuần tra bảo vệ vùng biển Đông Bắc, kiểm soát an ninh hoạt động ngoại thương.[1][6][8]

Đến thời Lê sơ [1428–1527], do ảnh hưởng của thể chế quân chủ mô hình Nho giáo, triều đình ban hành bộ Quốc triều hình luật trong đó thi hành nhiều chính sách khắt khe với ngoại thương nên hoạt động giao thương tại Vân Đồn có phần sút kém hơn thời Lý, Trần.[1][7][10]

Đến thời nhà Mạc [1527–1677], với chính sách mở cửa về thương mại, hoạt động ngoại thương tại thương cảng Vân Đồn lại hưng thịnh. Nhà Mạc còn cho xây dựng chùa ở Vụng huyện, xã Thắng Lợi, xây thành lũy ở Cẩm Phả, Hoành Bồ để phòng thủ đất nước. Thời Lê Trung hưng [1533–1789], hoạt động giao thương ở Vân Đồn vẫn được phát triển. Ngoài việc buôn bán, nhà Lê còn quan tâm xây dựng đình làng để làm nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh cho cư dân biển đảo như đình Cái Làng, đình Cống Cái, xã Quan Lạn.[1]

Đến cuối thế kỷ 17, thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Anh... được vào sâu trong nội địa buôn bán, Kẻ Chợ [Thăng Long], Phố Hiến [Hưng Yên], Hội An [Quảng Nam] trở thành các trung tâm giao thương mới, thương cảng Vân Đồn không còn giữ vai trò trung tâm thương mại. Đầu thế kỷ 19 thời nhà Nguyễn, thương cảng đã đi vào giai đoạn suy tàn không còn hoạt động.[1][11]

Di tíchSửa đổi

Di tích Thương cảng Vân Đồn bao gồm hệ thống các bến thuyền cổ trên phạm vi khoảng 200 km² trong vịnh Bái Tử Long, có các bến: Cống Đông, Cống Tây, Cái Làng, Cống Cái, Con Quy, Cái Cống, Cống Yên, Cống Hẹp thuộc bốn xã: Thắng Lợi, Ngọc Vừng, Quan Lạn, Minh Châu của huyện Vân Đồn.[12][13]

Do thời gian và sự bồi đắp của biển nên dấu tích của thương cảng Vân Đồn xưa chỉ còn lại hàng triệu mảnh sành sứ, các nền nhà, công trình, tiền cổ trong lòng đất, trên bờ vụng tại các bến thuyền cổ[14]. Ngày 29 tháng 10 năm 2003, các bến Cống Đông, Cống Tây [xã Thắng Lợi] và bến Cái Làng [xã Quan Lạn] được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 59/2003/QĐ-BVHTT.[13][15]

Xem thêmSửa đổi

  • Thăng Long
  • Chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3
  • Thương mại Đại Việt thời Lý
  • Thương mại Đại Việt thời Trần
  • Thương mại Đại Việt thời Lê sơ

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a b c d e f “Vân Đồn - thương cảng sầm uất nhất Việt Nam trong bảy thế kỷ”. vnexpress.net. 23 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2022.
  2. ^ “Thương cảng Vân Đồn: Lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao lưu văn hóa”. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. 5 tháng 9 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2022.
  3. ^ “Nâng tầm di tích Thương cảng Vân Đồn”. Báo Quảng Ninh điện tử. 21 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2022.
  4. ^ Khảo cổ học. Viện Khảo cổ học, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. 2004. tr.48. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  5. ^ “Thương cảng cổ 864 năm tuổi”. Báo Quảng Ninh điện tử. 27 tháng 1 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2022.
  6. ^ a b c “Vân Đồn – thương cảng sầm uất bậc nhất thời Trần”. Trang thông tin điện tử Nhà xuất bản Hà Nội. 11 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2022.
  7. ^ a b “Thương cảng Vân Đồn qua các thời kỳ lịch sử”. Báo Quảng Ninh điện tử. 25 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2022.
  8. ^ a b Ngô Sĩ Liên. Đại Việt sử ký toàn thư. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  9. ^ Viện lịch sử quân sự Việt Nam [2003]. Lịch sử Quân sự Việt Nam. Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần [Thế kỷ XIII-XIV]. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr.137. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  10. ^ Lê Thị Sơn [2004]. Quốc triều hình luật – lịch sử hình thành, nội dung và giá trị. Nhà xuất bản Khoa học xã hội. tr.149. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  11. ^ Khảo cổ học. Viện Khảo cổ học, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. 2006. tr.61. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  12. ^ “Hệ thống thương cảng Vân Đồn”. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. 18 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2022.
  13. ^ a b “Khu di tích Thương cảng Vân Đồn”. Bảo tàng Quảng Ninh. 13 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2022.
  14. ^ “Tìm lại dấu xưa thương cảng Vân Đồn”. Báo Biên phòng. 21 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2022.
  15. ^ “Quyết định số 59/2003/QĐ-BVHTT về việc xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh do Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành”. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2022.

Liên kết ngoàiSửa đổi

  • Nguyễn, Văn Kim [2009]. “Tính hệ thống và quy mô của Vân Đồn: Nhận thức về vai trò và vị thế của một thương cảng” [PDF]. Nghiên cứu lịch sử, số 9.
  • “Thương cảng Vân Đồn: Trung tâm giao thương quốc tế nổi tiếng một thời”. Báo Quảng Ninh điện tử. 20 tháng 3 năm 2014.

Video liên quan

Chủ Đề